NHNN đã ban hành Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND). Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/11/2026, thay thế Thông tư số 32/2015/TT-NHNN và Thông tư số 13/2024/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 32. Thông tư 40 gồm 4 chương, 16 điều và 3 phụ lục, quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu; tỷ lệ khả năng chi trả; tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn, dài hạn; hạn chế, giới hạn cho vay; tỷ lệ tổng mức nhận tiền gửi so với vốn chủ sở hữu…
Đây là những chỉ tiêu gắn trực tiếp với hoạt động huy động vốn, cấp tín dụng, quản trị thanh khoản và năng lực tài chính của QTDND. Bên cạnh các tỷ lệ cụ thể, Thông tư cũng đặt ra yêu cầu đối với hệ thống công nghệ thông tin, quy định nội bộ, cơ chế theo dõi, cảnh báo và xử lý khi không bảo đảm các giới hạn, tỷ lệ an toàn.
Quy định mới về tỷ lệ an toàn vốn
Theo Điều 8, QTDND phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%. Việc xác định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được quy định cụ thể tại Thông tư.
Thông tư đồng thời phân nhóm tài sản “Có” theo các hệ số rủi ro 0%, 20%, 50% và 100%. Chẳng hạn, nhóm hệ số rủi ro 0% gồm tiền mặt, tiền gửi tại NHNN, tiền gửi tại ngân hàng hợp tác xã và một số khoản cho vay có bảo đảm theo quy định; dư nợ cho vay được bảo đảm toàn bộ bằng nhà ở, quyền sử dụng đất, nhà ở gắn với quyền sử dụng đất của bên vay thuộc nhóm hệ số rủi ro 50%. Giá trị nguyên giá tài sản cố định và các tài sản “Có” còn lại không thuộc các nhóm 0%, 20%, 50% được áp dụng hệ số 100%. Phụ lục II của Thông tư hướng dẫn cụ thể việc phân nhóm và xác định tổng tài sản “Có” rủi ro.
Ảnh minh họa
Một nội dung QTDND cần theo dõi thường xuyên là giá trị thực của vốn điều lệ. Theo Điều 6, giá trị này được xác định bằng vốn điều lệ cộng lợi nhuận lũy kế chưa phân phối, trừ lỗ lũy kế chưa xử lý được phản ánh trên sổ sách kế toán. QTDND phải thường xuyên theo dõi, đánh giá giá trị thực của vốn điều lệ.
Nếu giá trị thực của vốn điều lệ giảm thấp hơn mức vốn pháp định, QTDND phải xây dựng và triển khai phương án xử lý; trong thời hạn tối đa 30 ngày kể từ ngày giá trị thực của vốn điều lệ giảm dưới mức vốn pháp định phải có văn bản báo cáo kèm phương án xử lý và cam kết thực hiện phương án gửi trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính cho NHNN chi nhánh Khu vực.
Thông tư cũng quy định các biện pháp mà NHNN chi nhánh Khu vực có thể xem xét áp dụng tùy mức độ giảm vốn. Trường hợp giá trị thực của vốn điều lệ giảm xuống dưới 80% mức vốn pháp định, các biện pháp được xem xét gồm hạn chế chia lãi; hạn chế mở rộng phạm vi, quy mô và địa bàn hoạt động; hạn chế, đình chỉ, tạm đình chỉ một số nội dung hoạt động; yêu cầu QTDND tăng vốn điều lệ; quyết định giới hạn tăng trưởng tín dụng trong trường hợp cần thiết; hoặc áp dụng một số tỷ lệ an toàn chặt chẽ hơn. Thông tư cũng quy định việc xem xét áp dụng can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt, cơ cấu lại theo quy định pháp luật.
Tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100%
Về thanh khoản, Điều 9 quy định tỷ lệ khả năng chi trả. Đáng chú ý, QTDND phải duy trì tỷ lệ khả năng chi trả trong ngày làm việc tiếp theo và trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo tối thiểu bằng 100%. Việc xác định các tài sản “Có” có thể thanh toán ngay và tài sản “Nợ” phải thanh toán được thực hiện theo Phụ lục III của Thông tư.
Phụ lục III quy định cụ thể tỷ lệ xác định đối với từng khoản mục. Trong nhóm tài sản “Có”, tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHNN và một số khoản tiền gửi tại ngân hàng hợp tác xã được xác định theo tỷ lệ 100%; các khoản dư nợ đến hạn của khoản cho vay, tùy trường hợp, được áp dụng các tỷ lệ 80% hoặc 75%; dư nợ đến hạn của các khoản nợ khác phải thu áp dụng tỷ lệ 70%. Ở phía tài sản “Nợ”, tiền gửi có kỳ hạn của khách hàng đến hạn thanh toán được xác định 100%, trong khi tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng được xác định theo tỷ lệ 15%.
Thông tư còn xác định trường hợp QTDND có nguy cơ mất khả năng chi trả khi thiếu hụt tài sản “Có” có thể thanh toán ngay ở mức từ 20% trở lên tại thời điểm tính toán tỷ lệ khả năng chi trả so với tài sản “Có” có thể thanh toán ngay tối thiểu để tuân thủ tỷ lệ khả năng chi trả trong thời gian 30 ngày liên tục. QTDND được xác định mất khả năng chi trả khi không thực hiện thanh toán nghĩa vụ nợ trong thời gian 1 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.
Khi mất khả năng chi trả, có nguy cơ mất khả năng chi trả hoặc tự đánh giá không có khả năng chi trả, QTDND phải kịp thời báo cáo NHNN chi nhánh Khu vực và thông báo cho Ngân hàng Hợp tác xã chi nhánh về thực trạng, nguyên nhân, các biện pháp đã áp dụng, biện pháp dự kiến áp dụng để khắc phục và các đề xuất, kiến nghị với NHNN chi nhánh Khu vực nếu có.
Vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung, dài hạn tối đa 30%
Điều 10 quy định QTDND phải duy trì tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn tối đa là 30%.
Thông tư quy định cụ thể công thức tính tỷ lệ cũng như cách xác định tổng dư nợ cho vay trung, dài hạn; nguồn vốn trung, dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn. Trong đó, tổng dư nợ cho vay trung và dài hạn là dư nợ có thời hạn còn lại trên một năm; không bao gồm dư nợ cho vay theo ủy thác của Chính phủ, tổ chức và cá nhân.
Nguồn vốn trung và dài hạn bao gồm một số cấu phần như vốn điều lệ, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính còn lại sau khi trừ lỗ lũy kế; lợi nhuận lũy kế chưa phân phối; cùng các khoản tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm và khoản vay có thời hạn còn lại trên một năm theo quy định. Nguồn vốn ngắn hạn gồm tiền gửi không kỳ hạn và các khoản có thời hạn còn lại đến một năm theo quy định tại Điều 10.
Một chỉ tiêu khác liên quan trực tiếp đến hoạt động huy động vốn của QTDND là tỷ lệ tổng mức nhận tiền gửi so với vốn chủ sở hữu.
Điều 11 quy định QTDND phải duy trì tỷ lệ tổng mức nhận tiền gửi so với vốn chủ sở hữu không vượt quá 20 lần. Tổng mức nhận tiền gửi được xác định trên bảng cân đối tài khoản kế toán tại thời điểm tính tỷ lệ, bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm của thành viên, tổ chức, cá nhân bằng đồng Việt Nam. Vốn chủ sở hữu cũng được xác định trên bảng cân đối tài khoản kế toán tại thời điểm tính tỷ lệ.
Đối với hoạt động cấp tín dụng, Điều 12 yêu cầu QTDND căn cứ vốn tự có tại cuối ngày làm việc gần nhất để xác định hạn chế cho vay đối với tổ chức, cá nhân theo Điều 135 và giới hạn cho vay đối với một khách hàng, một khách hàng và người có liên quan theo Điều 136 Luật Các tổ chức tín dụng.
Hội đồng quản trị thông qua các khoản cho vay đối với người thẩm định, người xét duyệt cho vay tại QTDND có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên, hoặc mức thấp hơn theo quy định nội bộ của QTDND.
Đối với các khoản cho vay thuộc trường hợp hạn chế cho vay theo quy định được viện dẫn tại Thông tư, QTDND phải báo cáo NHNN chi nhánh Khu vực và công khai trước Đại hội thành viên đối với khoản cho vay phát sinh đến thời điểm lấy số liệu để họp Đại hội thành viên…
Theo Thời báo Ngân hàng.