Đề án “Cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045”, ngày 11/6/2026 đã được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký Ban hành kèm theo Quyết định số 1266/QĐ-NHNN, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (NHHTX) thực hiện bước chuyển đổi mạnh mẽ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Bài viết này nêu lên những cơ hội, thách thức đối với hệ thống QTDND khi thực hiện Đề án tái cơ cấu nêu trên, đồng thời gợi ý mô hình phát triển sau hợp nhất, sáp nhập đối với QTDND.
Trong bối cảnh hệ thống QTDND đang đối mặt với xu hướng sáp nhập (tái cơ cấu, xử lý các quỹ yếu kém) và làn sóng chuyển đổi số mạnh mẽ, cơ hội lớn nhất không nằm ở khía cạnh công nghệ thuần túy, mà là cơ hội để nâng tầm vị thế và mở rộng quy mô một cách bền vững.
Cụ thể, cơ hội lớn nhất này được thể hiện qua ba khía cạnh chính sau:
1. Cơ hội nắm bắt về công nghệ nhờ mở rộng quy mô sau sáp nhập:
Trước đây, rào cản lớn nhất của các QTDND khi chuyển đổi số là chi phí đầu tư công nghệ quá lớn so với quy mô vốn nhỏ bé của một quỹ đơn lẻ. Quá trình sáp nhập và hợp nhất giúp các QTDND tập trung nguồn lực tài chính để đầu tư một nền tảng số hiện đại; Các quỹ nhỏ, yếu kém khi được sáp nhập vào các quỹ lớn có mô hình quản trị tốt sẽ ngay lập tức được tiếp nhận quy trình, hạ tầng quản trị điều hành, quản trị rủi ro tốt hơn.
2. Cơ hội mở rộng tiến tới chiếm lĩnh phân khúc "Tài chính toàn diện" bằng mô hình kết hợp.
Dù chuyển đổi số có mạnh mẽ đến đâu, các ngân hàng thương mại lớn vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận sâu sát đến từng hộ nông dân, vùng sâu vùng xa do chi phí vận hành chi nhánh cao. Đây chính là "sân nhà" của QTDND.
- Đối với các QTDND, ưu thế lớn nhất là sự thấu hiểu địa phương. Đây là cơ hội lớn nhất, trên cơ sở thấu hiểu thành viên, khách hàng địa phương về tính cách, hoàn cảnh - một thông tin định tính kết hợp với việc số hóa dữ liệu thành viên, khách hàng về các thông tin định lượng (lịch sử giao dịch được số hóa, chấm điểm tín dụng tự động), QTDND sẽ có một hệ thống phê duyệt tín dụng vừa nhanh, vừa chính xác mà các ngân hàng lớn khó thể sao chép được;
- Kết hợp giữa phương thức truyền thống với nền tảng số. Mô hình (Vật lý + Số): Khách hàng nông thôn vẫn cần sự tin cậy từ những con người thực sự hiện diện và gắn bó tại địa phương. Việc sáp nhập giúp mở rộng mạng lưới phòng giao dịch (Vật lý), kết hợp với các ứng dụng di động, thanh toán không dùng tiền mặt (Số) thông qua NHHTX giúp nâng cao trải nghiệm thành viên, giữ chân họ trước sự lấn lướt của các công ty Fintech hay Ngân hàng số.
3. Cơ hội nâng cao năng lực quản trị rủi ro và minh bạch hóa hệ thống.
Điểm yếu cố hữu khiến nhiều QTDND buộc phải sáp nhập, giải thể trong thời gian qua là bài toán quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ lỏng lẻo và tính minh bạch thấp. Chuyển đổi số chính là cơ hội để các QTDND giải quyết triệt để vấn đề này.Việc áp dụng các phần mềm quản lý dòng tiền, phê duyệt tín dụng tập trung giúp ban điều hành theo dõi sát sao các chỉ số an toàn, phát hiện sớm nợ xấu và các dấu hiệu trục lợi dòng vốn. Ngoài ra, quá trình sáp nhập buộc các quỹ phải rà soát, chuẩn hóa quy chế nội bộ. Khi các quy chế này được số hóa và tích hợp vào quy trình nghiệp vụ, các bước tác nghiệp sẽ được kiểm soát chặt chẽ trên hệ thống, góp phần giảm thiểu tối đa rủi ro đạo đức của cán bộ tín dụng, khắc phục những hạn chế của phương thức quản lý thủ công trước đây.
Tóm lại, cơ hội lớn nhất của QTDND lúc này là hình thành nên những QTDND có quy mô đủ lớn, vận hành trên nền tảng số, nhưng vẫn tuân thủ tôn chỉ mục đích của QTDND là một tổ chức tương hỗ địa phương. "Sáp nhập mang lại quy mô; Chuyển đổi số mang lại hiệu suất và năng lực kiểm soát. Nếu tận dụng tốt cơ hội này, QTDND không chỉ giữ vững được vai trò tương trợ thành viên, phát triển kinh tế tập thể, mà còn tự tin cạnh tranh sòng phẳng trong phân khúc tài chính vi mô, tiêu dùng và nông nghiệp nông thôn.
Có thể nói, bên cạnh như cơ hội mang lại cho các QTDND như nêu trên, song cũng đặt ra rất nhiều thách thức khó khăn cho phân khúc thị trường nhỏ bé này, cụ thể:
(i) Sự đổi mới mạnh mẽ trong chuyển đổi số, công nghệ ngân hàng, làm cho các QTDND chịu áp lực cạnh tranh hai đầu từ ngân hàng lớn và công nghệ tài chính mở, gây áp lực rất lớn cho các QTDND trong việc huy động, mở rộng cho vay và giữ thành viên, không ít thành viên đã chuyển sang vay của NHTM khi mà cơ chế chính sách cho phép, nhất là các QTDND trên địa bàn đô thị có nhiều NHTM hoạt động;
(ii) Hạn chế về vốn, quy mô, nguồn lực truyền thông còn khiêm tốn so với các NHTM, do vậy năng lực cạnh tranh của QTDND suy giảm trước sự mở rộng của các NHTM, đặc biệt các ngân hàng bán lẻ và ngân hàng số. Các ngân hàng chủ động điều chỉnh lãi suất, tăng cường khuyến mại, rút ngắn quy trình; Trong khi nhiều QTDND còn chậm đổi mới, chưa ứng dụng công nghệ để tối ưu quy trình thẩm định và chăm sóc thành viên.
(iii) Phụ thuộc địa lý, do vậy sẽ mất lợi thế khi đô thị hóa diễn ra nhanh ở khu vực nông thôn. Nhất là các QTDND tại những tỉnh, thành phố sáp nhập không phải là trung tâm hành chính của tỉnh, thành phố mới, các hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các tỉnh này kém sôi động rất nhiều so với thời điểm chưa sáp nhập, điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nhu cầu vay vốn của thành viên tại các tỉnh thành phố này.
(iv) Sản phẩm dịch vụ chưa đa dạng, khó tạo nội dung truyền thông phong phú với ít sản phẩm. Trong khi đó, khi mở rộng địa bàn hoạt động theo địa giới hành chính mới, rất cần các QTDND đẩy mạnh truyền thông để người dân trên địa bàn biết về QTDND.
(v) Rủi ro uy tín hệ thống Quản trị yếu ở một số quỹ ảnh hưởng đến hình ảnh toàn hệ thống. Tình trạng này tạo ra những thách thức không nhỏ cho sự phát triển của các QTDND khác hoạt động tốt.
Gợi ý một số định hướng hoạt động:
Để triển khai có hiệu quả Đề án “Cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045” đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực.
Trước những cơ hội và thách thức nêu trên, để tận dụng cơ hội vượt qua thách thức, xin gợi ý hướng hoạt động của QTDND theo các mô hình dưới đây:
1. Mô hình "Kết hợp số" Đối với QTDND, là mô hình không phải là một phần mềm hay một công nghệ cụ thể mà là một tư duy chiến lược. Bản chất của mô hình là sự kết hợp, cộng hưởng giữa các nguồn lực, các thực thể và các giá trị cốt lõi cũ - mới nhằm tạo ra một sức mạnh tổng hợp lớn hơn rất nhiều so với việc đứng riêng lẻ hoặc làm chuyển đổi một cách chấp vá. Mô hình nay dựa trên 3 trụ cột cộng hưởng cốt lõi sau:
Trụ cột 1: Kết hợp “Quy mô và công nghệ”: Sáp nhập tạo ra quy mô, chuyển đổi số tạo ra hiệu suất. Hai yếu tố này hỗ trợ nhau: Quy mô là điều kiện quan trọng tạo nguồn lực thúc đẩy nhanh cho đổi mới công nghệ, chuyển đổi số. Ứng dụng công nghệ mới, chuyển đổi số tạo nền tảng cho quản trị điều hành hiệu quả, qua đó mà nâng cao năng lực cạnh tranh của quỹ sau sáp nhập.
Trụ cột 2: Kết hợp “vật lý và kỹ thuật”; Đây là sự cộng hưởng giữa lợi thế truyền thống và năng lực hiện đại: QTDND không bỏ qua kênh truyền thống để chạy theo App thuần túy như các Ngân hàng số. Thay vào đó cán bộ tín dụng vẫn xuống tận nơi gặp thành viên (vật lý) nhưng sử dụng máy tính bảng để nhập dữ liệu, thẩm định, định vị tài sản và phê duyệt trên hệ thống số: Công thức cộng hưởng: Sự thấu hiểu địa phương + tốc độ xử lý của công nghệ = quy trình phê duyệt tín dụng vừa nhanh, vừa an toàn tối đa.
Trụ cột 3: Kết hợp hệ sinh thái liên kết với NHHTX hưởng thụ các sản phẩm dịch vụ hiện đại của NHHTX. Càng ít số lượng quỹ thì phục vụ của NHHTX sẽ hiệu quả hơn
Có thể nói, nếu làm chuyển đổi số theo kiểu cũ, hiệu quả mang lại chỉ là phép cộng tuyến tính (1 + 1 = 2). Nhưng với mô hình kết hợp hay cộng hưởng số: Tái cơ cấu để có quy mô lớn hơn, dùng quy mô lớn để tối ưu chi phí công nghệ. Dùng công nghệ để giải phóng năng lực con người và khai thác tối đa lợi thế am hiểu địa phương.
Đây chính là con đường giúp hệ thống QTDND vừa giữ vững bản chất "tương hỗ, liên kết dòng vốn dòng tiền tại chỗ", vừa chuyển mình trở thành một tổ chức tài chính hiện đại, minh bạch và phát triển bền vững.
2. Vận hành trên nền tảng số của một QTDND là một bài toán rất đặc thù. Nó không giống với các ngân hàng thương mại lớn vốn có ngân sách khổng lồ, cũng không giống các công ty Fintech thuần công nghệ.
Đối với QTDND, vận hành số phải cân bằng được giữa hai yếu tố: Tính hiện đại, an toàn (để quản trị rủi ro) và tính gần gũi, đơn giản (để phù hợp với đặc thù thành viên nông nghiệp, nông thôn).
Dưới đây là mô hình vận hành trên nền tảng số cốt lõi mà các QTDND có thể hướng tới:
a/ Kiến trúc nền tảng số cốt lõi:
Để vận hành số, QTDND cần một "hệ xương sống" công nghệ vững chắc nhưng tinh gọn:
Hệ thống Core Banking thế hệ mới, hỗ trợ xử lý dữ liệu theo thời gian thực. Hệ thống này phải có khả năng kết nối giao diện lập trình ứng dụng (API) để sẵn sàng tích hợp với các dịch vụ bên ngoài.
Hệ thống quản lý quy trình công việc: Số hóa toàn bộ quy trình nội bộ, từ khâu tiếp nhận hồ sơ vay vốn, thẩm định, phê duyệt cho đến kiểm soát sau vay. Hồ sơ được luân chuyển tự động qua các phòng ban trên phần mềm thay vì ký giấy tờ vật lý.
Hệ thống quản lý dữ liệu thành viên tập trung (CRM): Lưu trữ toàn bộ lịch sử giao dịch, đóng góp vốn, và các thông tin định tính về thành viên để phục vụ bài toán chấm điểm tín dụng tự động.
b/ Số hóa quy trình nghiệp vụ trọng yếu:
(i) Nghiệp vụ tín dụng số
Tiếp nhận nhu cầu từ xa: Thành viên có thể đăng ký nhu cầu vay vốn qua ứng dụng di động hoặc website của Quỹ, thay vì phải trực tiếp đến phòng giao dịch trong giờ hành chính.
Thẩm định kết hợp: Cán bộ tín dụng xuống địa bàn dùng máy tính bảng/điện thoại chụp ảnh tài sản đảm bảo, định vị GPS, nhập dữ liệu trực tiếp vào hệ thống ngay tại thực địa. Dữ liệu này được đẩy về trung tâm xử lý tức thì.
Phê duyệt tập trung và phân cấp tự động: Hệ thống tự động kiểm tra các điều kiện tiên quyết (như hạn mức, nợ xấu trên CIC, tỷ lệ an toàn vốn). Nếu hồ sơ đạt chuẩn, quy trình phê duyệt được kích hoạt tự động theo phân cấp thẩm quyền trên phần mềm, giảm thiểu thời gian trễ và hạn chế tối đa rủi ro đạo đức (cắt xén, sửa đổi hồ sơ giấy).
(ii) Nghiệp vụ huy động vốn và thanh toán
Tiết kiệm trực tuyến: Cho phép thành viên mở sổ tiết kiệm, tra cứu số dư và tất toán ngay trên ứng dụng di động. Điều này giúp quỹ giảm áp lực giao dịch tiền mặt tại quầy và tiết kiệm chi phí in ấn phôi sổ.
Kết nối hệ thanh toán sinh thái: Thông qua NHHTX hoặc các đối tác trung gian thanh toán, QTDND tích hợp dịch vụ chuyển tiền nhanh 24/7, thanh toán hóa đơn (điện, nước, học phí), quét mã QR. Thành viên QTDND có thể giao dịch không dùng tiền mặt như khách hàng của ngân hàng thương mại.
(iii) Quản trị rủi ro và Kiểm soát nội bộ trên nền tảng số
Vận hành số giúp Ban kiểm soát và Ban điều hành có những "mắt thần" giám sát hệ thống hữu hiệu:
Cảnh báo sớm: Hệ thống tự động phát hiện và phát đi cảnh báo khi có các dấu hiệu bất thường, chẳng hạn như: nợ quá hạn chớm xuất hiện, tỷ lệ tập trung tín dụng vào một nhóm khách hàng vượt mức an toàn, hoặc các giao dịch tiền mặt vượt ngưỡng quy định của Luật Phòng chống rửa tiền.
Nhật ký hệ thống không thể sửa xóa: Mọi thao tác của cán bộ từ nhập liệu, sửa đổi thông tin khách hàng, thay đổi lãi suất đều được hệ thống ghi lại chi tiết (ai làm, làm lúc nào, nội dung gì). Điều này tạo ra tính minh bạch tuyệt đối và là công cụ đắc lực cho công tác kiểm tra nội bộ.
c/ Lộ trình triển khai thực tế cho QTDND:
Do hạn chế về nguồn lực, các quỹ không thể số hóa toàn bộ cùng một lúc mà nên đi theo lộ trình cuốn chiếu:
Giai đoạn 1: Số hóa văn phòng và quy trình nội bộ
Triển khai phần mềm quản lý văn bản, tờ trình số, phê duyệt nội bộ số để cán bộ làm quen với tư duy số.
Chuẩn hóa và làm sạch dữ liệu thành viên hiện tại đưa lên hệ thống tập trung.
Giai đoạn 2: Số hóa quy trình lõi
Nâng cấp Core Banking.
Đưa quy trình thẩm định - phê duyệt tín dụng lên hệ thống Workflow.
Giai đoạn 3: Phát triển kênh số giao tiếp thành viên (Digital Channels)
Ra mắt ứng dụng di động dành riêng cho thành viên (tra cứu, gửi tiết kiệm trực tuyến, chuyển tiền).
Ứng dụng phân tích dữ liệu lớn (Big Data) ở mức cơ bản để dự báo nhu cầu vốn của địa phương theo mùa vụ.
Khi chuyển sang vận hành trên nền tảng số, rào cản lớn nhất thường không phải là phần mềm, mà là năng lực tiếp cận công nghệ của cán bộ quỹ và thói quen dùng tiền mặt của thành viên lớn tuổi. Vì vậy, song song với việc xây dựng nền tảng, quỹ cần có các chương trình đào tạo liên tục cho nhân sự và các chiến dịch truyền thông, hướng dẫn, "bình dân hóa" công nghệ để đồng hành cùng thành viên.
TS. Nguyễn Thị Kim Thanh.